Xem Nhiều 3/2023 #️ Tạo Hiệu Ứng Văn Bản Retro 3D Bằng Cách Sử Dụng Layer Styles Trong Adobe Photoshop # Top 4 Trend | Deedee-jewels.com

Xem Nhiều 3/2023 # Tạo Hiệu Ứng Văn Bản Retro 3D Bằng Cách Sử Dụng Layer Styles Trong Adobe Photoshop # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tạo Hiệu Ứng Văn Bản Retro 3D Bằng Cách Sử Dụng Layer Styles Trong Adobe Photoshop mới nhất trên website Deedee-jewels.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nguyên liệu

Những nguyên liệu sau được sử dụng trong suốt bài hướng dẫn này:

1. Tạo Background Gradient

Bước 1

Tạo một tài liệu kích thước 800 x 600px và nhân đôi layer Background.

Bước 2

Nhấp đúp vào layer Background copy để áp dụng một hiệu ứng Gradient Overlay bằng cách sử dụng các giá trị sau:

Đánh dấu hộp Dither

Style: Radial

Scale: 150%

Tạo Gradient bằng cách sử dụng màu #c8c5b8 bên trái và #aaa593 ở bên phải.

Điều này sẽ tạo ra Gradient background.

2. Thêm hiệu ứng Subtle Noise vào Background

Bước 1

Nhân đôi layer Background copy, và sau đó nhấp chuột phải vào bản sao mới và chọn Rasterize Layer Style.

Thiết lập màu Foreground là #c8c5b8 và màu Background là #aaa593.

Bước 2

Bước 3

Thay đổi chế độ Blend Mode sang Darken trên layer Background copy 2. Điều này sẽ thêm hiệu ứng subtle noise vào background gradient.

Bước 4

Nhấp vào biểu tượng Create new fill hoặc adjustment layer ở dưới bảng Layers và chọn Levels.

Bước 5

Thay đổi giá trị Shadows là 72, Gamma là 1.05, và Highlights là 236. Điều này sẽ điều chỉnh màu background.

3. Tạo văn bản và hiệu ứng 3D Extrusion

Bước 1

Tạo văn bản trong All Caps, sử dụng phông chữ Freshman Normal. Size là 125 pt, color là #43a0a8, và Kerning thiết lập Optical.

Bước 2

Nhân đôi layer văn bản và kéo layer sao chép bên dưới nó.

Bước 3

Bước 4

Nhấn Option-Command-Shift-T (Alt-Ctrl-Shift-T đối với Windowns) mười lần để nhân đôi layer cùng với sự thay đổi để tạo ra hiệu ứng 3D extrusion.

4. Tạo Smart Objects cho hiệu ứng 3D Extrusion và Shadow

Bước 1

Chọn tất cả các layer bản sao văn bản và thay đổi màu văn bản là #c7b299.

Bước 2

5. Thiết kế layer văn bản gốc

Nhấp đúp vào layer văn bản gốc để áp dụng theo layer style sau đây:

Bước 1

Thêm Stroke với những cài đặt:

Size: 2

Position: Inside

Color: #f2eee1

Bước 2

Thêm hiệu ứng Inner Shadow với những cài đặt:

Color: #464646

Opacity: 100%

Hủy đánh dấu Use Global Light

Angle: 129

Distance: 5

Spread: 50

Size: 2

Bước 3

Thêm hiệu ứng Pattern Overlay với các cài đặt:

Bạn có thể thử thiết lập các pattern khác -một vài pattern trông thật sự trẻ trung.

Đây sẽ là style layer văn bản chính.

6. Thiết kế hiệu ứng 3D Extrusion

Nhấp đúp vào layer 3D Extrusion để áp dụng theo layer style sau đây:

Bước 1

Thêm hiệu ứng Bevel & Emboss với các cài đặt:

Những gì bạn sẽ làm ở đây là thay đổi các giá trị Angle và Altitude trên Bevel and Emboss để tạo hiệu ứng 3D shading dựa trên góc của extrusion.

Bước 2

Thêm Contour với các cài đặt:

Bước 3

Thêm Color Overlay với các cài đặt:

Đây là phần nơi bạn chọn màu của extrusion, hãy tự do chọn lựa theo ý muốn của bạn.

Bạn có thể xem cách tạo ra ảo ảnh của một hiệu ứng phẳng 3D bằng cách sử dụng một vài hiệu ứng. Bạn có thể tham gia nhiều khóa học để nâng cao kết quả xử lý điều chỉnh shadow cho các góc.

Bạn cũng có thể chọn công cụ Move Tool và di chuyển mẩu 3D extrusion trở lên nếu bạn muốn. Hãy dành thời gian thực hiện, nếu bạn thích, bạn sẽ nhận được kết quả xứng đáng.

7. Làm việc trên Shadow

Bước 1

Bước 2

Thay đổi chế độ Blend Mode sang Multiply trên layer Blend Shadow, và sau đó sử dụng công cụ Move Tool kéo bóng và di chuyển xung quanh cho đến khi bạn hài lòng.

Bước 3

Bấm vào biểu tượng Create new fill hoặc adjustment layer ở dưới cùng của bảng Layers và chọn Hue/Saturation.

Bước 4

Nhấp vào biểu tượng Clip adjustment to layer ở dưới cùng của bảng Properties, và thay đổi giá trị Saturation là -65.

Xin chúc mừng! Bạn đã hoàn thành

Trong hướng dẫn này, chúng ta tạo ra một gradient background và sử dụng bộ lọc Noise filter để thêm hiệu ứng subtle noise vào nó.

Sau đó, chúng ta tạo văn bản, nhân đôi nó với một sự thay đổi để tạo ra hiệu ứng 3D extrusion, và chuyển các layer sao chép thành các đối tượng thông minh Smart Objects để tạo layer shadow.

Sau đó, chúng ta tạo kiểu văn bản và layer 3D extrusion để đạt được hiệu ứng 3D retro.

Cuối cùng, chúng ta tạo ra shadow bằng cách sử dụng bộ lọc Motion Blur filter, điều chỉnh chế độ Blend Mode và color, và di chuyển nó xung quanh để đạt được kết quả cuối cùng.

Cách Sử Dụng Layer Style Trong Photoshop

Layer Style

Để sử dụng Layer Style có hai cách

Cách thứ nhất: Bạn chuột phải vào Layer chọn Blending Options.

Cách thứ hai: Bạn chọn Layer xong ấn vào biểu tượng “fx” ở dưới Layer Panel.

Hộp Layer Style bao gồm ba phần chính

Danh sách các hiệu ứng: Các hiệu ứng đang được sử dụng sẽ dược tích chọn.

Thông số các hiệu ứng: Tương ứng với mỗi hiệu ứng sẽ hiện ra bảng thông số để bạn thiết lập.

Khung xem trước: Hiển thị hiệu ứng áp lên đối tượng trước ở đây.

Chức năng của từng hiệu ứng

Styles

Liệt kê các Style sẵn có của Photoshop, bạn có thể lưu các Style để sử dụng cho lần sau. Trên mạng cũng có rất nhiều Style để bạn download về import vào sử dụng.

Blending Options

Bạn còn nhớ về Blending đã được nhắc đến ở bài đầu tiên học về Layer không. Ở đây chúng ta có thêm một số tùy chọn nâng cao như thay đổi mức trong suốt cho từng kênh R G B riêng biệt.

Bevel and Emboss

Sử dụngBevel and Emboss để tạo hiệu ứng nổi ở cạnh Layer. Trong mục Structure bạn có thể điều chỉnh hiệu ứng ở trong hoặc ngoài (Style), kiểu hiển thị hiệu ứng cứng hoặc mềm (Technique), độ đậm nhạt và kích thước của hiệu ứng (Depth/Size/Soften). Để thay đổi hướng ánh sáng và hòa trộn vùng sáng tối bạn có thể điều chỉnh các thông số trong hộp Shading.

Ngoài ra trong Bevel and Emboss còn có hai mục con là Countour và Texture. Countour dùng để tạo các rãnh trên hiệu ứng và Texture để thêm các mẫu hoa văn vào đối tượng.

Stroke

Sử dụng Stroke để tạo đường viền cho Layer. Bạn có thể điều chỉnh độ dày đường viền, vị trí đường viền (trong, ngoài, căn giữa), độ trong suốt, màu sắc…

Inner Shadow

Sử dụng Inner Shadow để tạo đổ bóng bên trong Layer. Bạn có thể điều chỉnh góc, khoảng cách, kích thước đổ bóng.

Inner Glow

Sử dụng Inner Glow để tạo hiệu ứng phát sáng vào bên trong Layer.

Satin

Thiết lập độ bóng cho Layer bằng Satin. Cái này rất thích hợp tạo các hiệu ứng giống Logo kim loại trên xe Ô tô.

Color Overlay

Phủ Layer bằng một lớp màu đơn sắc với Color Overlay.

Gradient Overlay

Phủ Layer bằng một lớp Gradient. Bạn có thể chọn góc đổ, Stlye đổ, chọn các Gradient sẵn có hoặc tự tạo cho mình một Gradient mới.

Pattern Overlay

Phủ Layer bằng một lớp Pattern.

Outer Glow

Tạo hiệu ứng phát sáng ra ngoài Layer. Cái này ngược lại với Inner Glow.

Drop Shadow

Tạo đổ bóng bên dưới Layer.

Sử dụng nhiều hiệu ứng trên một Layer

Bạn có thể áp dụng nhiều hiệu ứng lên một Layer cùng một lúc. Những Layer có hiệu ứng sẽ có thêm biểu tượng “Fx” trong Layer Panel. Để xem các hiệu ứng đang được áp dụng cho Layer đó bạn kích vào mũi tên ở chữ “Fx”.

Ngoài ra bạn cũng có thể tắt bật hiệu ứng bằng biểu tượng con mắt để quan sát sự thay đổi. Nếu muốn thay đổi thông số của hiệu ứng bạn kích đúp trực tiếp vào hiệu ứng cần thay đổi nó sẽ hiện bảng Layer Style.

Copy, Paste, Delete Layer Style

Photoshop hỗ trợ bạn Copy Style từ một Layer này sang một Layer khác bằng cách chuột phải vào Layer và chọn Copy Layer Style. Sau đó kích vào Layer khác và chọn Paster Layer Style là được. Ngoài ra khi chuột phải cũng có lựa chọn Clear Layer Style để xóa hết toàn bộ hiệu ứng trên Layer đang thao tác.

Tổng kết

Qua bài học tìm hiểu về cách sử dụng Layer Style trong Photoshop bạn đã biết cách sử dụng các hiệu ứng có trong Photoshop. Tùy từng yêu cầu thiết kế bạn có thể sử dụng một cách linh hoạt các Style để đạt được kết quả ưng ý nhất.

Nội dung bài hôm nay đến đây là hết, bạn có thể làm bài tập mình đưa ra ở dưới để luyện tập. Hẹn gặp lại bạn ở bài tiếp theo: Cách sử dụng Brush trong Photoshop.

Cách Tạo Và Sử Dụng Layer Mask Trong Photoshop

Layer mask trong photoshop là một trong những công cụ vô cùng quan trọng của phần mềm photoshop. Tuy nhiên, không phải người dùng nào cũng hiểu rõ về tính năng, đặc điểm, cũng như cách tạo và sử dụng công cụ hữu ích này.

Nếu muốn trở thành một người photoshop chuyên nghiệp, chắc chắn bạn sẽ không thể bỏ qua những thông tin hữu ích sau đây của chúng tôi.

Layer mask là mặt nạ trong photoshop, chúng được tạo ra để nhằm che đi một phần hoặc toàn bộ layer của bạn. Độ che phủ của layer mask dày hay mỏng sẽ được phụ thuộc vào mức độ tối của lớp layer. Nếu layer mask có màu đen đậm, thì chứng tỏ layer càng bị che phủ nhiều.

Layer mask thường được sử dụng để cắt ảnh, tạo bóng đổ dạng gương cho photoshop. Hơn nữa, Layer mask còn được dùng để nhằm loại bỏ, giảm bớt 1 phần ảnh hưởng của những layer hiệu ứng.

Nguyên tắc hoạt động của layer mask trong Photoshop

Layer mask hoạt động với nguyên tắc sau:

Chúng dùng một layer với 2 màu đen trắng để nhằm che đi hoặc hiển thị 1 phần layer gốc. Tương tự như việc đeo mặt nạ, việc che đi này sẽ không hề làm ảnh hưởng tới bức ảnh gốc, thay vào đó chúng chỉ bị layer mask che đi mà thôi.

Để thực hiện che đi một phần của layer gốc, bạn chỉ việc đổ màu đen lên layer mask. Khi muốn hiển thị lại phần layer gốc, công việc của bạn là chỉ cần đổ màu trắng vào layer mask. Còn nếu bạn muốn làm mờ layer gốc, thì chỉ cần đổ màu xám vào layer mask.

Khi dùng layer mask, bạn nên chú ý tới cường độ của màu mask, tức là phần màu đen được tô trên layer mask. Nếu như màu càng đen, thì đồng nghĩa với việc đối tượng càng được che nhiều và ngược lại.

Hướng dẫn cách tạo và sử dụng layer mask

Cách tạo layer mask trong photoshop

Cách add layer mask trong photoshop, bạn thực hiện những công việc sau đây:

Bước 1: Chọn Layer cần tạo mask

Bước 2: Chọn vào phần biểu tượng Layer mask

Bước 3: Dùng Brush để thực hiện tô vào Layer Mask giúp thực hiện che dấu vùng ảnh.

Ngoài ra, bạn có thể sử dụng phím tắt tạo layer mask trong photoshop, điều này sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian cho việc tạo mặt nạ.

Để sử dụng layer mask trong photoshop chúng ta có thể áp dụng với những phương pháp cơ bản như sau:

Những phương pháp này được hoạt động với cơ chế như nhau là đều dựa trên cường độ của phần màu mask, khác nhau là ở việc sử dụng công cụ tạo ra phần màu này. Theo đó, chúng ta có những cách sử dụng như sau:

Sử dụng brush tool để tô màu mask

Bước 4: Điều chỉnh Opacity của cọ brush với cường độ màu đen phù hợp

Bước 5: Tô vào phần bạn muốn che bằng cọ brush

Cắt ảnh với việc dùng vùng chọn

Bước 1: Chọn layer cần cắt ảnh

Bước 5: Hiệu chỉnh lại.

Tô màu cho mask bằng việc sử dụng gradient

Với phương pháp này, bạn cũng thực hiện tương tự như 2 phương pháp trên.

Những lưu ý khi sử dụng layer mask

Cách Sử Dụng Layer Trong Photoshop

Cho đến lúc này mọi thứ chúng ta thực hành đều được thao tác trên Background Layer. Có thể bạn nhận ra rằng làm việc với Background layer rất không thú vị. Bất cứ thao tác nào bạn tiến hành trên Background Layer đều thay đổi đơn vị Pixel của Background và cách duy nhất để Undo là sử dụng History Palette. Khi bạn biết thêm về layer trong PTS, một kỷ nguyên mới của PTS đang mở ra vơi bạn. Vậy! Layer là cái gì?

Bạn có thể tưởng tượng rằng mỗi Layer trong một tài liệu như là một tấm phim trong suốt. Khi bạn vẽ lên bất kỳ một tấm phim nào, bạn vẫn có thể nhìn xuyên qua những vùng chưa được vẽ của tấm phim đó. Khi bạn chồng các tấm phim lên nhau, vùng được vẽ của tấm phim thấp hơn vẫn được thể hiện xuyên qua vùng trong suốt của tấm phim ở trên nó. Trong PTS, Layer trong suốt được thể hiện dưới dạng các ô kẻ ca rô trắng và xám (trừ khi file ảnh của bạn chứa Background). Vùng kẻ carô đó không phải là một phần của văn bản, nó chỉ có tác dụng chỉ cho bạn biết đó là vùng trong suốt.

Hình bên thể hiện 3 layer chồng lên nhau. Hình ngôi sao, con bướm và con cá là nội dung của mỗi layer. Bạn có thể nhìn thấy bằng trực giác rằng con cá ở dưới cùng, con bướm ở giữa và ngôi sao ở trên cùng. PTS chỉ xử lý riêng biệt từng layer, do vậy bất cứ một thao tác trên layer nào, chỉ có tác dụng trên layer đó.

Layer Palette hiển thị thứ tự của các layer trong tài liệu của bạn dưới dạng những hình thu nhỏ để giúp bạn xác định những layer dễ dàng hơn. Như đã nói từ trước, bạn chỉ có thể thao tác từng layer một. Layer đang được kích hoạt sẽ có màu xanh như hình dưới.

Hơn nữa, layer đang kích hoạt sẽ có thêm một biểu tượng “paintbrush” ở bên trái của hình thu nhỏ. Nháy kép vào layer trong Layer Palette cho phép bạn truy nhập Layer Style. Bạn có thể đổi tên cho Layer bằng cách nháy kép vào layer đó.

Mặc dù bạn chỉ có thể thao tác trên từng layer một, nhưng có một số cách mà có thể thao tác trên một vài layer. Ví dụ, di chuyển layer, copy layer giữa các tài liệu và căn chỉnh layer. Để thao tác những lệnh này, bạn cần phải link các layer mà bạn muốn làm việc với.

Bạn hãy nhìn vào hàng nút ở dưới cùng của Layer Palette. Những nút này (từ trái qua) làm việc với hiệu ứng layer (layer effect), thêm vào Layer Mask, nhóm các layer vào một tập layer (layer set), tạo và điều chỉnh layer, tạo một layer thông thường, và xoá layer. Bây giờ chúng ta chỉ bạn đến hai nút cuối cùng.

Nếu bạn nhấp chuột vào nút Delete Layer, bạn sẽ được hỏi để xác nhận rằng bạn thực sự muốn xoá nó. Nếu bạn muốn xoá một layer mà không cần xác nhận, nhấp và kéo layer đó trong Layer Palette và thả nó vào biểu tượng thùng rác.

Khi bạn nhấp vào nút New Layer, một layer mới được tạo ra nằm trên layer đang được kích hoạt. Layer mới sẽ được đặt tên theo mặc định là Layer 1, Layer 2 v.v.. Nếu bạn muốn đặt tên cho layer khi bạn tao ra nó, giữ phím Alt khi bạn nhấn vào biểu tượng New Layer. Để tạo ra một layer nằm ở dưới layer đang được kích hoạt, giữ phím Ctrl và nhấp vào nút New Layer. Nếu bạn muốn cùng một lúc tạo một layer mới nằm dưới layer đang được kích hoạt và đặt tên cho nó, kết hợp Ctrl-Alt và nhấp vào nút tạo layer.

Để nhanh chóng tạo ra một bản sao của một layer, kéo layer đó từ Layer Paletee và thả nó vào nút New Layer. Layer mới được tạo ra sẽ có tên giống như Layer gốc, nhưng có thêm chữ “copy”. Nếu bạn muốn cùng một lúc sao chép và đặt tên cho nó thì giữ phím Alt khi kéo và thả nó vào nút New Layer.

Để thay đổi vị trí của các layer, bạn chỉ việc nhấp và kéo nó đến vị trí mà mình muốn trong Layer Palette. Một ô vuông sẽ xuất hiện cho bạn biết nơi nào layer sẽ được đặt khi bạn kéo chuột. Xem hình.

Bây giờ chúng ta hãy khám phá tuỳ biến của Layer Palette ở trên cùng của nó.

Để bắt đầu việc thực hành bạn nên lưu ảnh này lại để thực tập.

Bạn có thể điều chỉnh mức độ Opacity bằng thanh trượt hoặc điền giá trị số bằng bàn phím, ví dụ 75 = 75% Opacity. Chú ý rằng thanh trượt được ẩn ở mũi tên cạnh giá trị số, nháy vào đó một lần thanh trượt sẽ xuất hiên.

Thiết lập chế độ Opacity là kiểm soát độ trong suốt của layer, tuy nhiên, bạn có thể có những mức độ trong suốt khác nhau trên cùng một layer, thậm chí ngay cả khi Layer đó được cài đặt ở mức 100% Opacity. Bạn làm bằng cách sử dụng công cụ Painting tool, Eraser, Layer Mask v.v.. Có rất nhiều công cụ Painting Tool trong PTS có riếng mức độ Opacity độc lập hoàn toàn với Opacity của layer. Hy vọng là những phần trên không làm các bạn rối trí, vì phần tối chúng ta bàn đến công dụng của Transparency Lock và nó rất dễ gây nhầm lẫn.

Bên dưới Blend Mode và Opacity bạn có một loạt các hộp kiểm để khoá nhiều tính năng thao tác.Từ trái qua phải những nút khoá này có công dụng sau:

transparency, image pixels, position, and all of the above.

Bất cứ khi nào mộ trong các khoá này được kích hoạt, bạn sẽ thấy một biểu tượng cái khoá nhỏ xuất hiện bên phải của layer trong Layer Palette. Khi tất cả các khoá được kíck hoạt, biểu tượng đó sẽ chuyển sang “đen xì”. Nó sẽ không cho phép bạn thay đổi gì trừ phi Background layer phải được “nâng cấp” thành Layer.

Transparency Lock cho phép bạn thao tác trên một layer nhưng không cho phép bạn thay đổi mức độ trong suốt của layer đó. Cách tốt nhất để giải thích là bằng ví dụ.

Trong file ảnh mà chúng ta đang làm việc, thiết lập mức độ Opacity cho một layer bất kỳ là 50%.

Hãy lấy một màu (tôi dùng màu xanh lá cây) và Fill layer đó với màu đó.

kết quả là toàn bộ layer được tô màu và cho layer đó một mức độ Opacity là 50% xanh trong ví dụ của tôi.

Bây giờ Undo thay đổi đó và đánh dấu vào hộp kiểm Transparency lock. Tô layer đó với màu của bạn một lần nữa. Lần này chỉ có một layer được tô màu, và layer này vẫn giữ nguyên giá trị Transparency mà bạn đã tô cho nó là 50%.

Transparency Lock thực chất không khó để hiểu, nhưng nó rất dễ gây nhầm lân nếu bạn chọn nó tại một lúc nào đó và quên là hộp kiểm đang được đánh dấu. Bất cứ khi nào bạn thấy một công cụ nào đó không có những hiệu ứng như bình thường, bạn nên kiểm tra xem nó hoặc bất cứ những khoá khác đang được kích hoạt hay không trước khi …. cà cuống!

Image Pixel Lock vô hiệu hoàn toàn công cụ Painting tool vào layer đó. Bạn vẫn có thể di chuyển và Transform nội dung của layer, điều chỉnh mức Opacity, và thay đổi Blend mode nhưng bạn không thể vẽ trực tiếp lên nó.

Position Lock thì bạn tự khám phá lấy. Bạn không thể di chuyển hoặc Transform một layer khi nó bị Position Lock, nhưng bạn vẫn có thể vẽ, áp dụng Layer Effect và thay đổi Blend Mode

The position lock is self explanatory. You can’t move or transform a layer that has its position locked, but you can still paint on it, apply layer effects, and change blend modes.

Và như bạn đoán, cái cuối cùng tương đương với tất cả những cái trên khi chúng đều được chọn.

Những PTS phiên bản trước 6.0 đều có giới hạn là 100 Layer, nhưng từ PTS 6.0 trở lên giới hạn đó không còn nữa, thực chất bạn có thể có tới 8000 layer (bao gồm layer sets và layer effect).

Layer chỉ được bảo quản khi bạn lưu file ảnh dưới định dạng của PTS là PSD. Khi làm việc với những file ảnh chứa nhiều layer, tốt hơn hết là bạn nên lưu 1 bản với định dạng của PTS để sau này còn sửa chữa. Để giảm dung lượng của một file và để cho nó tương thích với các trình xử lý ảnh khác bạn luôn luôn cần lưu nó lại với một định dạng khác tuỳ theo mục đích sử dụng.

Trong PTS 6.0, bạn có thể dùng Save As và file ảnh sẽ bị tự động Flatten khi bạn chọn một định dạng khác với định dạng của PSD hoặc PDF. Một thông báo sẽ xuất hiện để báo cho bạn biết một vài dữ liệu của bức ảnh sẽ mất nếu một định dạng nào đó không hỗ trợ layer.

Hiện nay có một số chương trình hỗ trợ định dạng của PTS là PSD, nhưng không phải hoàn toàn cho nên trước khi mở định dạng của PTS trong một ứng dụng khác, bạn nên đơn giản hoá các layer càng nhiều càng tốt. Bạn có thể Flatten file ảnh bằng tay hoặc dùng lệnh Merge. Chúng ta sẽ học về lệnh này trong những bài học sau.

Bạn nên chú ý rằng chế độ màu của một file ảnh có thể tác động đến sự tương tác giữa các layer. Vì lý do này, bất cứ khi nào bạn biến định dạng PTS từ một chế độ màu này qua chế độ khác, bạn sẽ được thông báo là phải Flatten file ảnh trước. Bạn có thể tiếp tục mà không cần Flatten nhưng chú ý rằng kết quả sẽ thay đổi rất nhiều phụ thuộc vào layer effect gì và Blending Mode nào mà bạn đã sử dụng. Dĩ nhiên nếu bạn không thích kết quả đó bạn có thể Undo những thay đổi và Flatten file ảnh trước khi thay đổi chế độ một lần nữa.

2 Di chuyển, Copy và Transform layer. Khi bạn đã bắt đầu làm việc với Layer, một công cụ trở nên rất quan trọng đó là Move Tool. Lệnh gõ tắt cho nó là V. Bạn có thể tạm thời chuyển sang chế độ di chuyển dù cho bất cứ công cụ nào đang được kích hoạt bằng cách nhấn phím Ctrl. Trường hợp ngoại lệ là Pen Tool, Hand Tool, Slice và Shape Tool trong PTS 6+

Move tool được dùng để di chuyển nội dung của Layer, nhưng nó cũng được sử dụng để chọn layer và copy layer. Như tất cả các công cụ chúng ta đã từng sử dụng, có một vài tổ hợp phím có thể thay đổi tính năng của Move Tool.

Giữ phím Shift xuống kết hợp với Move Tool sẽ giúp bạn di chuyển theo đường thẳng hoặc một góc 45 độ

Giữ phím Alt sẽ cùng một lúc copy một layer và di chuyển nó

Bạn có thể kết hợp hai phím Shift và Alt

Bạn có thể thao tác với nội dung của layer với lệnh Free Transform. Lệnh này làm việc cũng giống như nó làm việc với vùng lựa chọn. Khi bạn trong chế độ Free Transform, một vùng bao quanh sẽ xuất hiện xung quanh nội dung của layer và bạn có thể di chuyển, thay đổi tỉ lệ, xoay chuyển, “làm méo”, “làm lệch” và lật ngược nội dung của layer bằng cách sử dụng kết hợp chuột và bàn phím. Khi layer được link, Transformation sẽ áp dụng cho tất cả các layer, dù cho chỉ có mỗi layer đang được kích hoạt có hộp bao quanh.

Khi bạn chọn Move tool, vùng tuỳ biến của Move tool xuất hiện trên Option Bar.

Bạn sẽ nhận ra một hộp kiểm cho phép ẩn hoặc hiện vùng bao quanh ở layer được kích hoạt. Nó tạo cho vùng lựa chọn tự động dễ dàng hơn vì bạn có thể nhìn thấy chính xác layer nào đang được kích hoạt, thậm chí khi Layer Palette của bạn bị ẩn. Nó cũng rất thuận tiện cho bạn để chuyển sang chế độ Free Transform, chỉ việc rê con trỏ đến một trong những điểm của hộp bao quanh và gọi lệnh Transformation. Khi bạn chuyển sang chế độ Free Transformation, bạn sẽ nhận thấy hộp bao quanh chuyển từ những đường chấm chấm thành màu đen, và thanh Option Bar cho phép bạn điền giá trị số vào để áp dụng Transformation. Để thiết lập Transformation và thoát khỏi Transformation, nháy đúp vào hộp bao quanh, nhấn phím Enter ở vùng bàn phím số (máy desktop) hoặc nhấn vào dấu ttiick ở Option Bar. Để thoát khỏi chế độ Free Transform mà không thiết lập Transform, nhấn Esc trên bàn phím hoặc dấu “X” trong Option bar.

Từ PTS 6+ bạn sẽ nhận ra một số nút được thêm vào trên Option Bar cho Move Tool. Những nút này sẽ là màu xám trừ khi bạn có hơn 2 layer link với nhau.

Nếu Move Tool được kích hoạt và bạn nháy chuột phải vào layer, bạn sẽ nhận được một menu hiện ra nó cho phép bạn chọn các layer tại điểm của con trỏ của bạn. Hãy thử với một file ảnh của bạn bằng cách nháy chuột phải vào bất cứ điểm nào của file ảnh. Dĩ nhiên điều này chỉ hữu dụng khi bạn đặt tên cho từng layer một cách logic và bạn cũng nên thành lập một thói quen đặt tên cho layer mỗi khi tạo một layer mới.

Alt-chuột phải chọn layer ở trên cùng ngay dưới con trỏ.

Giữ phím Alt và nhấn một trong hai phím [ và ] cho phép bạn di chuyển theo thứ tự từ trên xuống dưới của các layer. Dấu ngoặc trái [ di chuyển xuống, ] di chuyển lên.

Alt-shift-[ chọn layer cuối cùng

Alt-Shift-] chọn layer trên cùng.

Quay lại với Layer và Move Tool bạn cũng có thể copy Layer giữa các tài liệu bằng cách kéo và thả chúng từ Layer Palette vào cửa sổ của tài liệu đang được mở. Tuy nhiên, nếu bạn muốn copy vài layer một lúc, bạn phải link những layer đó lại và kéo và thả chúng từ một cửa sổ của tài liệu này và thả chúng vào tài liệu khác bằng công cụ Move Tool. Bạn không thể kéo và thả nhưng layer được liên kết từ Layer Palette.

Đó chỉ là một trong những trường hợp khi bạn muốn liên kết các layer. Có những lúc bạn muốn liên kết một vài layer khi bạn muốn Merge chúng với nhau. Điều này có thể được thực hiện bằng lệnh Merge Linked trong Layer menu. Lệnh tắt của Merge layer là Ctrl-E

Trong PTS 6 có thêm một tính năng mới được gọi là Layer Set. Với Layer Set bạn có thể nhóm các layer lại với nhau để tránh sự lộn xộn trong Layer Palette và có thể thao tác một vài layer cùng một lúc. Nó có tác dụng tương tự như liên kết các Layer, nhưng có nhiều tính năng hơn bởi vì bạn có thể nhân đôi Layer Set.

Nếu bạn muốn liên kết các layer khi bạn cần căn chỉnh và phân chia chúng. Điều này cho phép bạn điều chỉnh vị trí của layer tương quan với những layer khác.

Tôi muốn giới giới thiệu ngắn gọn với bạn một vài điểm đặc trưng tiên tiến khác của layer. Tôi sẽ không đi quá sâu và vấn đề, nhưng tôi muốn cùng bạn thực hành với nó, bởi vì sau này chúng ta sẽ sử dụng đặc điểm này trong những bài học sau.

Một ứng dụng quan trọng của việc nhóm các layer là khi bạn muốn viết chữ vào một file ảnh hoặc tô màu. Bạn có thể lựa chọn text và dán vào nó, nhưng khi dòng Text đó không thể sửa chữa được nữa. Với bài tập này, tôi đã tạo ra một tài liệu với nền là màu trắng, Rainbow Gradient layer, một layer text ẩn và một layer text. Lưu file này lại rồi mở nó ra trong PTS. Bạn sẽ Fill dòng text với công cụ Gradient và áp dụng Texture. (Khi bạn mở file này trong PTS 6, bạn có thể nhận được một thông báo là một vài layer cần update. Chọn Update nếu bạn nhận được thông báo)

Do layer ở tận cùng luôn là layer bị cắt, đầu tiên bạn cần chuyển layer text xuống dưới Gradient và Texture Layer.

Sử dụng Layer Palette để kéo những layer trong trật tự từ trên xuống dưới:

Dòng chữ được tô với Gradient

Kích hoạt Texture Layer bằng cách kích chuột vào tên của nó

Nhóm layer này bằng lệnh Ctrl – G, (một cách nữa để nhóm 2 layer là nhấn phím Alt rồi kích chuột trái vào khoảng biên giữa của hai layer trong Layer Palette)

Tại thời điểm này layer Texture bị chắn bởi Gradient cho nên nó là màu trắng đen. Chúng ta sẽ sử dụng Layer Blending Mode để đổi layer Texture thành màu cầu vồng. Đổ Blending Mode của Texture Layer thành Luminosity.

Bạn đã bắt đầu thấy sự kỳ diệu của layer trong PTS chưa? cứ bình tĩnh, đây chỉ mới là điểm khởi đầu.

Layer Masks rất giống với Quick Mask hoặc Alpha Channel, nhưng chúng chỉ được liên kết với một layer đơn lẻ. Chúng có thể được chỉnh sửa và được lưu lại với tài liệu của bạn khi bạn lưu nó trong định dạng của PTS. Layer Mask có thể bắt đầu từ lúc mở tài liệ hoặc áp dụng từ một vùng đã được lựa clieej. Layer Mask rất rất hữu dụng bởi vì nó cho phép bạn áp dụng tính trong suốt lên một layer mà không phá huỷ mãi mãi layer. Miễn là Layer Mask được liên kết với một layer, tỉ lệ phân chia của layer mask có thể được ẩn hoặc hiện mà không ảnh hưởng gì tới layer bạn đầu. Layer mask là công cụ lý tưởng để đê tạo những bức ảnh hỗn hợp và dựng phim

Adjustment Layers là dạng layer đặc biệt, chúng được dùng để điều chỉnh những layer nằm ở dưới. Hầu hết những thứ ở dưới Image Adjust menu cũng có thể được áp dụng bằng cách sử dụng Adjustment Layer. Sử dụng Adjustment Layer có một lợi ích khác biệt. Bởi vì …. vì nó có thể điều chỉnh được (Adjustable). Nói cách khác, nếu bạn áp dụng Hue/Saturation Adjustment vào một file ảnh, và sau đó bạn nghĩ lại nhưng thay đổi có vẻ nhiều quá, bạn có thể nháy kép vào Adjustment Layer và quay lại với chế độ cài đặt. Thêm vào nữa, Adjustment layer được tạo ra trên layer mask, cho nên bạn có thể xoá Adjustment từ vùng được lựa chọn bằng cách Paint vào vùng Adjustment layer với màu đen. Vẽ vào Adjustment layer với màu xám cho phép bạn làm phai nhạt adjustment.

Layer Effects là những hiệu ứng đặc biệt mà có thể áp dụng vào layer. Một điều tuyệt vời của layer effect là chúng hoàn toàn có thể chỉnh sửa và rất linh động. Bạn có thể thay đổi nội dung của một layer và layer effect sẽ tự động thay đổi vì nội dung của layer đó thay đổi. Bạn cũng có thể điều chỉnh rất nhiều đặc điểm của layer effect. Layer effect được nhóm trong một hộp thoại chung gọi là “Layer Styles”, hãy tự tìm hiểu nó xem có bao nhiêu tính năng?

Photoshop 6 Fill Layers là một tính năng duy nhất của PTS 6+. Fill Layer có thể chứa một màu đặc, Gradient hoặc Pattern. Khi bạn thiết kế một layer như là một fill layer, vùng được fill có thể được thay đổi dễ dàng bằng cách nhấp vào biểu tượng của nó trên layer Palette. Fill layer cũng có Layer mask đính kèm, cho nên fill layer không thể bị tẩy xoa, chỉ bằng cách vẽ lên layer mask.

Bạn đang xem bài viết Tạo Hiệu Ứng Văn Bản Retro 3D Bằng Cách Sử Dụng Layer Styles Trong Adobe Photoshop trên website Deedee-jewels.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!